MỘT BẢN DI CHÚC NHƯ THẾ NÀO ĐƯỢC COI LÀ HỢP PHÁP?

Quy định của pháp luật về Di chúc. 

  • “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết” (Căn cứ Điều 624 BLDS 2015 quy định)
  • Người lập di chúc là: “Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật” (Điều 609 BLDS 2015).
  • Người lập di chúc có các quyền sau đây: “Chỉ định người thừa kế, truất quyền hưởng di sản của người thừa kế; phân định phần di sản cho từng người thừa kế; dành một phần tài sản trong khối di sản để đi tặng, thờ cúng; giao nghĩa vụ cho người thừa kế; chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản” (Điều 626 BLDS 2015)

Theo quy định trên thì việc lập di chúc để định đoạt tài sản của người lập di chúc được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, do đó người lập di chúc hoàn toàn có quyền và tự do lập di chúc theo ý chí của mình mà không cần phải hỏi ý kiến, hay phải được sự đồng ý bất kỳ ai.

 

Một bản di chúc như thế nào thì được coi là hợp pháp.

Theo quy định tại các Điều 627, 628, 629, 630, 631, 632, 633, 634 và 635 BLDS 2015 thì để một di chúc hợp pháp cần đảm bảo các điều kiện sau:

Thứ nhất, điều kiện về chủ thể lập di chúc:

– Phải là người thành niên minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

– Trong trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi lập di chúc thì phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc và di chúc phải được lập thành văn bản;

– Trong trường hợp người bị hạn chế về thể chất hoặc người không biết chữ lập di chúc thì phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực;

Thứ hai, điều kiện về nội dung của di chúc:

– Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật (là là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định), không trái đạo đức xã hội (là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng).

– Di chúc gồm các nội dung chủ yếu sau: Ngày, tháng, năm lập di chúc; họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc; họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản; di sản để lại và nơi có di sản. Ngoài các nội dung trên, di chúc có thể có các nội dung khác.

– Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.

Trường hợp di chúc có sự tẩy xóa, sửa chữa thì người tự viết di chúc hoặc người làm chứng di chúc phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xóa, sửa chữa.

Thứ ba, điều kiện về hình thức của di chúc:

Di chúc có thể được lập bằng các hình thức sau đây:

– Di chúc miệng (chỉ lập trong trường hợp người lập di chúc bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản): được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc; kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền.

Sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ.

– Di chúc được lập bằng văn bản, bao gồm các hình thức sau đây:

+ Di chúc bằng văn bản có người làm chứng:

Trường hợp người lập di chúc không tự mình viết bản di chúc thì có thể tự mình đánh máy hoặc nhờ người khác viết hoặc đánh máy bản di chúc, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng. Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc.

Việc lập di chúc bằng văn bản có người làm chứng phải tuân thủ các điều kiện về chủ thể lập di chúc; nội dung của di chúc đã được nêu ở phần trên và những người sau đây không được làm chứng: Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc; người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc; người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

– Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng: Người lập di chúc phải tự viết và ký vào bản di chúc. Việc lập di chúc bằng văn bản không có người làm chứng phải tuân thủ các điều kiện về chủ thể lập di chúc; nội dung của di chúc đã được nêu ở phần trên.

– Di chúc bằng văn bản có công chứng, chứng thực: Người lập di chúc có thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực bản di chúc. Những người sau đây không được công chứng, chứng thực di chúc: Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc; người có cha, mẹ, vợ hoặc chồng, con là người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật; người có quyền, nghĩa vụ về tài sản liên quan tới nội dung di chúc.

– Trong trường hợp di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực thì Di chúc chỉ được coi là hợp pháp khi di chúc có đủ các điều kiện về chủ thể; điều kiện về nội dung của di chúc đã được nêu ở phần trên và phải có ít nhất hai người làm chứng và người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc.

 

Đánh giá post

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *