TẶNG CHO TÀI SẢN CÓ ĐIỀU KIỆN

1. Thế nào là tặng cho tài sản có điều kiện?

– Căn cứ theo khoản 1 Điều 462 BLDS 2015 quy định về tặng cho tài sản có điều kiện là bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho. Điều kiện tặng cho không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

– Điều kiện ở đây là bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ. Thời điểm phát sinh là trước hoặc sau khi tặng cho. Như vậy, có hai trường hợp:

+ Thứ nhất: Điều kiện phát sinh trước khi tặng cho. Theo đó, bên được tặng cho phải thực hiện nghĩa vụ trước thì hợp đồng tặng cho mới có hiệu lực.

+ Thứ hai: Hợp đồng tặng cho đã có hiệu lực. Bên được tặng cho thực hiện nghĩa vụ sau khi được tặng cho.

Ví dụ: Cha mẹ tặng cho B  một mảnh đất với điều kiện B phải chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ đến hết đời.

Hoặc A tặng cho B một căn nhà với điều kiện là B phải cho A sống cùng trong ngôi nhà đó.

2. Bên tặng không giao tài sản khi đã thực hiện điều kiện tặng cho phải làm gì?

– Việc thực hiện điều kiện có thể tiến hành trước hoặc sau khi tặng cho tài sản phụ thuộc vào sự thống nhất ý chí của bên tặng cho và bên được tặng cho.

– Căn cứ theo Khoản 2 Điều 462 BLDS 2015 quy định trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ trước khi tặng cho, nếu bên được tặng cho đã hoàn thành nghĩa vụ mà bên tặng cho không giao tài sản thì bên tặng cho phải thanh toán nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã thực hiện.

– Quy định này hoàn toàn phù họp với thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng tặng cho. Vì khi chưa chuyển giao tài sản thì hợp đồng tặng cho chưa phát sinh hiệu lực, do đó, mặc dù bên được tặng cho đã hoàn thành điều kiện thì bên tặng cho không bắt buộc phải chuyển giao tài sản mà thay vào đó bên tặng cho thanh toán nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã thực hiện. Việc thanh toán của bên tặng cho đối với bên được tặng cho thực chất là thanh toán các chi phí mà bên được tặng cho đã bỏ ra để thực hiện điều kiện.

3. Quyền đòi lại tài sản trong Hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện

– Căn cứ theo Khoản 3 Điều 462 BLDS 2015 quy định trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho không thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại.

– Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho không thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại. Vì để nhận được tài sản thì bên được tặng cho phải hoàn thành điều kiện, do đó, nếu bên được tặng cho không thực hiện điều kiện đồng nghĩa với việc họ không được nhận tài sản và phải trả lại cho bên tặng cho. Thậm chí, nếu trong thời gian giữa tài sản, bên được tặng cho làm mất mát, hư hỏng tài sản thì còn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bên tặng cho.

4. Trách nhiệm khi tặng tài sản không thuộc sở hữu của mình

– Căn cứ theo Điều 457 BLDS 2015 quy định cụ thể về Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được tặng cho đồng ý nhận.

– Cụm từ “giao tài sản của mình” đã khẳng định việc tặng cho tài sản cho người khác phải thuộc sở hữu của mình. Tặng cho là hành vi định đoạt tài sản, do đó chỉ chủ sở hữu hoặc người được chủ sở hữu ủy quyền mới được phép mang tài sản tặng cho người khác.

Căn cứ theo Điều 460 BLDS 2015 quy định trách nhiệm do cố ý tặng cho tài sản không thuộc sở hữu của mình như sau: “Trường hợp bên tặng cho cố ý tặng cho tài sản không thuộc sở hữu của mình mà bên được tặng cho không biết hoặc không thể biết về việc đó thì bên tặng cho phải thanh toán chi phí để làm tăng giá trị của tài sản cho bên được tặng cho khi chủ sở hữu lấy lại tài sản”.

Như vậy, chỉ áp dụng quy định này khi thỏa mãn các điều kiện sau đây:

+ Bên tặng cho cố ý tặng cho tài sản không thuộc sở hữu của mình. Đây là trường hợp bên tặng cho biết tài sản không thuộc sở hữu của mình nhưng vẫn mang tặng cho người khác; còn nếu bên tặng cho không biết tài sản không thuộc sở hữu của mình (bên tặng cho ngay tình) thì không áp dụng quy định này;

+ Bên được tặng cho không biết hoặc không thể biết về việc tài sản tặng cho không thuộc sở hữu của bên tặng cho (Bên được tặng cho ngay tình); còn nếu bên được tặng cho không ngay tình (biết được tài sản không phải của bên tặng cho nhưng vẫn nhận) thì bên được tặng cho không được chi trả phần chi phí đã bỏ ra để làm tăng giá trị của tài sản tặng cho.

Theo dõi, cập nhật thông tin pháp luật, tìm hiểu thêm về dịch vụ của chúng tôi:

  1. Xem thêm các bài viết về dân sự: Nhấn vào đây
  2. Tiktok: Nhấn vào đây
  3. Youtobe: Nhấn vào đây
  4. Facebook: Nhấn vào đây
  5. Zalo: 0869.642.643
Đánh giá post

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *