Xóa án tích xong có được coi là chưa có tiền án không?

1. Xóa án tích xong có được coi là chưa có tiền án không?

Theo quy định tại Điều 63 Bộ luật Hình sự hiện hành, xóa án tích được hiểu “Người đã được xóa án tích thì coi như chưa bị kết án và được tòa án cấp giấy chứng nhận”.

– Đương nhiên xóa án tích: Trường hợp đương nhiên được xóa án tích nếu không phạm tội mới được áp dụng đối với người bị kết án nếu không phải về các tội:  Xâm phạm an ninh quốc gia (Chương XIII) và các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh (Chương XXVI) của Bộ luật Hình sự khi họ đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 70 của Bộ luật này.

– Xóa án tích theo quyết định của Tòa án đối với trường hợp được áp dụng đối với người bị kết án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh khi họ đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và đáp ứng các điều kiện tại Điều 71.

– Xóa án tích trong trường hợp đặc biệt: Đối vối người bị kết án có những biểu hiện tiến bộ rõ rệt và đã lập công, được cơ quan, tổ chức nơi người đó công tác hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú đề nghị, thì Tòa án sẽ có quyết định việc xóa án tích nếu người đó đã bảo đảm được ít nhất một phần ba thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 70 và khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này.

Như vậy, căn cứ vào quy định trên thì sau khi đã được xóa án tích thì bạn là một công dân bình thường và chưa bị kết án.

2. Đã được xóa án tích có phải coi như chưa bị kết án?

Căn cứ theo quy định tại điều 70 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung 2017

– Đương nhiên được xóa án tích sẽ được áp dụng đối với người bị cơ quan có thẩm quyền kết án không phải về các tội xâm phạm an ninh quốc gia; tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh của Bộ luật Tố tụng hình sự khi họ đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 70 Bộ luật Hình sự.

– Người bị cơ quan có thẩm quyền kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo thì người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây:

+ 01 năm đối với trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo;

+ 02 năm đối với trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;

+ 03 năm đối với trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;

+ 05 năm đối với trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án.

– Trong trường hợp người bị kết án đang chấp hành các hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định tại các điểm a, b và c khoản này thì thời hạn đương nhiên được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung.

– Nếu người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người đó không thực hiện những hành vi phạm tội mới trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này.

– Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp là cơ quan có trách nhiệm cập nhật thông tin về tình hình án tích của người bị kết án và tường hợp khi có yêu cầu thì cấp phiếu lý lịch tư pháp xác nhận không có án tích, nếu có đủ điều kiện quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này.

– Án tích sẽ tác động và hạn chế về việc thực hiện các quyền của người bị kết án như các quyền: Quyền được hành nghề, quền có công việc nhất định, quyền ứng cử và sẽ ảnh hưởng đến việc tái hòa nhập cộng đồng của người bị kết án. Đồng thời, án tích sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người bị kết án vì trong một số trường hợp nếu người phạm tội đã bị kết án, thuộc trường hợp có án tích nhưng chưa được xóa là một trong những cơ sở để định tội, để xem xét tái phạm, tái phạm nguy hiểm đó được coi là tình tiết định khung hình phạt trong một số tội phạm hoặc là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Như vậy, đối với người bị kết án đương nhiên sẽ được xóa án tích nếu kể từ khi chấp hành xong hình phạt chính, thì người đó đã chấp hành xong các hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 70 BLHS năm 2015.

3. Cách tính thời hạn để xóa án tích được quy định như thế nào?

Căn cứ tại Điều 73 Bộ luật Hình sự quy định về việc Tòa án quyết định việc xóa án tích khi:

– Trường hợp người bị kết án có những biểu hiện tiến bộ rõ rệt và đã lập công, được cơ quan, tổ chức nơi người đó công tác hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú đề nghị xóa án tích;

– Người có án tích đã bảo đảm thực hiện được ít nhất 1/3 thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 70 và khoản 2 Điều 71 của Bộ luật Hình sự như trên.

Như vậy, theo quy định hiện nay thì có 03 trường hợp được xóa án tích là: Đương nhiên xóa án tích, xóa án tích do quyết định của Tòa án và xóa án tích trong trường hợp đặc biệt. Tùy từng trường hợp mà người có án tích sẽ phải đáp ứng những điều kiện khác nhau để được xóa án tích.

Theo dõi, cập nhật thông tin pháp luật, tìm hiểu thêm về dịch vụ của chúng tôi:
1. Tiktok: Nhấn vào đây
2. Youtobe: Nhấn vào đây
3. Facebook: Nhấn vào đây
4. Zalo: 0869.642.643

Xem thêm dịch vụ luật sư tranh tụng của chúng tôi (Nhấn vào đây)

Đánh giá post

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *