DNTN là loại hình doanh nghiệp duy nhất trong các loại hình doanh nghiệp hiện tại không có tư cách pháp nhân, bởi lẽ đây là loại hình doanh nghiệp chỉ do một cá nhân làm chủ sở hữu và trong mọi hoạt động của doanh nghiệp, thì cá nhân làm chủ sở hữu sẽ phải chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của cá nhân đó[1]. Chính vì vậy, DNTN không có tài sản độc lập, và không thỏa mãn các điều kiện để được công nhận tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật dân sự Viêt Nam. Có thể thấy đặc điểm này đã làm cho loại hình DNTN bị phụ thuộc hoàn toàn vào chủ sở hữu doanh nghiệp về sự tồn tại cũng như phát triển của doanh nghiệp. Theo đó, chủ sở hữu doanh nghiệp sẽ có toàn quyền trong việc tổ chức hoạt động của doanh nghiệp đó, kể cả quyền xây dựng cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp mà các loại hình doanh nghiệp khác không có. Nếu như các loại hình công ty TNHH, công ty cổ phần người đại diện theo pháp luật không nhất thiết là chủ sở hữu mà có thể là các chức danh quản lý như Giám đốc, Chủ tịch Hội đồng Quản trị… là những người đi thuê theo Hợp đồng lao động, thì chủ sở hữu doanh nghiệp phải luôn là người đại diện pháp luật duy nhất của DNTN, với tư cách là người yêu cầu giải quyết việc dân sự, người có quyền lợi, bị đơn, nguyên đơn và các nghĩa vụ liên quan trước Tòa án để thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, đây là đặc điểm riêng biệt của loại hình doanh nghiệp này. Tuy nhiên, đây cũng là nhược điểm lớn nhất của loại hình doanh nghiệp này, khi rủi ro mang lại cho chủ sở hữu là rất lớn với chế độ trách nhiệm vô hạn nên loại hình doanh nghiệp này sẽ không phù hợp với những ngành nghề kinh doanh mang tính rủi ro cao.
Đồng thời, với đặc điểm chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm vô hạn về mọi hoạt động của DNTN đã làm hạn chế quyền thành lập thêm các DNTN tiếp theo hoặc các loại hình chủ thể kinh doanh có chế độ chịu trách nhiệm vô hạn khác như loại hình hộ kinh doanh hay loại hình doanh nghiệp công ty hợp danh của chủ sở hữu[2]. Rõ ràng, đặc điểm này rất khác biệt với loại hình doanh nghiệp mà các chủ doan
h nghiệp có chế độ chịu trách nhiệm hữu hạn như công ty TNHH và công ty cổ phần, các chủ doanh nghiệp của hai loại hình doanh nghiêp này có thể tự do thành lập nhiều công ty TNHH hoặc công ty cổ phần khác.
Đối với các loại hình doanh nghiệp còn lại, thì có những loại hình doanh nghiệp mà ngoài cá nhân ra, các tổ chức có tư cách pháp nhân cũng có thể trở thành chủ sở hữu như công ty TNHH, công ty cổ phần, hoặc có loại hình doanh nghiệp, chủ sở hữu phải ít nhất từ hai cá nhân thành lập ra như công ty hợp danh, duy chỉ có loại hình DNTN này, chủ sở hữu chỉ có thể là một cá nhân mà không thể là một tổ chức. Đặc điểm về chủ sở hữu là cá nhân và có chế độ chịu trách nhiệm vô hạn dường như có vẻ tương đồng với loại hình chủ thể kinh doanh Hộ kinh doanh, tuy nhiên khi phân tích đặc điểm pháp lý về chủ sở hữu của Hộ kinh doanh thì có thể thấy, các cá nhân trở thành chủ sở hữu hộ kinh doanh chỉ có thể là công dân Việt Nam, trong khi đó cá nhân là chủ sở hữu của DNTN không thấy sự hạn chế này, được hiểu mọi cá nhân Việt Nam và nước ngoài đều có thể trở thành chủ sở hữu của DNTN. Hơn nữa, Hộ kinh doanh không phải là một loại hình doanh nghiệp nên hai loại chủ thể kinh doanh này có đặc điểm pháp lý rất khác biệt mà không thể có sự nhầm lẫn về mặt thực tiễn cũng như về mặt lý luận.
DNTN có khả năng huy động vốn rất hạn chế. Trong các loại hình doanh nghiệp hiện tại, thì hai loại hình doanh nghiệp là công ty hợp danh và DNTN là hai loại hình doanh nghiệp không được phép phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào[3], điều đó cho thấy rõ tính hạn chế về việc huy động vốn của loại hình doanh nghiệp này. Theo đó, vốn DNTN chỉ có thể dựa hoàn toàn vào vốn của chủ sở hữu, vì vậy, loại hình doanh nghiệp này khó có thể phù hợp với những ngành nghề đầu tư cần có vốn đầu tư lớn và dường như cũng vì đặc điểm này mà loại hình DNTN thường được chọn cho loại hình kinh doanh nhỏ.

